Làng nghề truyền thống hội nhập và phát triển

09/10/2019 09:03 Số lượt xem: 2302
Làng nghề - một mô hình kinh tế có từ lâu đời, là vốn quý giá của dân tộc và có những giá trị to lớn về kinh tế, văn hóa, xã hội. Giá trị ấy không chỉ thể hiện ở chỗ giải quyết việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế - xã hội nông thôn, mà các làng nghề đã lưu giữ và phát triển những sản phẩm thủ công mỹ nghệ truyền thống mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc. Bắc Ninh được biết đến là vùng đất trăm nghề, trường tồn với thời gian nhiều làng nghề vẫn được bảo tồn và phát triển trở thành những làng nghề tiêu biểu, được cả nước và thế giới biết đến như làng tranh Đông Hồ, giấy dó Đống Cao, đồ gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ, gốm Phù Lãng… Trong bối cảnh mới khi mà số hóa, intenet kết nối vạn vật, trí tuệ nhân tạo… đang tác động đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội đặt làng nghề đứng trước những cơ hội mới song cũng đối diện không ít thách thức đòi hỏi phải có sự chuyển đổi phù hợp để phát triển.

Bài 1: Làng nghề trong đời sống của cư dân nông thôn

 

 

Phát triển ngành nghề nông thôn, làng nghề chính là phương thức chủ yếu để chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng chuyển từ lao động nông nghiệp thu nhập thấp sang lao động phi nông nghiệp với năng suất, chất lượng, thu nhập cao, đồng thời gìn giữ những giá trị văn hóa đặc sắc của mỗi địa phương.

 

 

Giá trị kinh tế


Bắc Ninh có 62 làng nghề, tạo việc làm cho 62,74% số hộ trong làng nghề, thu hút gần 74 nghìn lao động thường xuyên, thu nhập trung bình đạt khoảng 8 triệu đồng/người/tháng. Cộng với số lao động nông nhàn (sau khi hết thời vụ sản xuất nông nghiệp) và số lao động không còn việc làm khi ruộng đất đã chuyển đổi mục đích sử dụng (phát triển công nghiệp và đô thị) hiện nhiều làng nghề đã thu hút hơn 70% lao động, đem lại giá trị vượt trội so với nông nghiệp. Các làng nghề tạo ra sản phẩm hàng hóa đạt khoảng 12,2 nghìn tỷ đồng/năm. Nhờ đó, số hộ thoát nghèo và khá giả tăng cao, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ và kéo theo sự phát triển của nhiều ngành nghề khác, tạo thêm việc làm, thu nhập cho dân cư nhiều vùng nông thôn.
Với chủ trương và định hướng phù hợp, cùng sự đồng thuận, quyết tâm cao của người dân, từ năm 2005 nhiều làng nghề truyền thống trong tỉnh năng động chuyển đổi phù hợp với xu thế mới. Việc di dời các cơ sở sản xuất trong khu dân cư vào các khu, cụm công nghiệp, quy mô và năng lực làng nghề phát triển rõ rệt, nhiều sản phẩm có chỗ đứng vững chắc trên thị trường trong và ngoài nước. Nổi bật như làng nghề Quảng Bố (xã Quảng Phú, Lương Tài) chuyên gia công cơ khí, với sự mạnh dạn đầu tư đổi mới công nghệ, làng nghề đã có những chuyển biến tích cực. Hiện nay, Quảng Bố có hơn 70 doanh nghiệp (DN), hợp tác xã (HTX) và hơn 70% số hộ làm nghề, giải quyết việc làm thường xuyên cho gần 500 lao động trong và ngoài địa phương, thu nhập từ  4 - 10 triệu đồng/người/tháng. Trong đó, nhiều DN có doanh thu hàng chục tỷ đồng/năm và giải quyết việc làm cho 20 - 30 lao động.

 

 

Nét độc đáo của sản phẩm làng nghề Phù Lãng.

 

Cũng ở xã Quảng Phú, làng nghề gỗ mỹ nghệ ở Lĩnh Mai có gần 200 cơ sở sản xuất, kinh doanh. Trước nhu cầu mạnh mẽ của người tiêu dùng về đồ gỗ mỹ nghệ cao cấp, các cơ sở sản xuất mạnh dạn mở rộng quy mô; đầu tư máy móc hỗ trợ quá trình sản xuất; cải tiến mẫu mã, đa dạng hóa các mặt hàng với chất lượng tốt, giá hợp lý đem lại hiệu quả thiết thực. Trừ chi phí, mỗi cơ sở có lợi nhuận ít cũng hàng trăm triệu đồng/năm, nhiều lên tới hàng tỷ đồng. Tiêu biểu như cơ sở sản xuất của anh Nguyễn Như Viễn, với 2 xưởng sản xuất, các công đoạn xử lý gỗ nguyên liệu, phun sơn... trước đây làm bằng tay nay thay thế bằng máy, nâng cao hiệu quả sản xuất, chất lượng sản phẩm và giải phóng sức lao động. Trung bình mỗi tháng cơ sở sản xuất 30-50 bộ bàn ghế, nhận làm 10 bộ sản phẩm thô từ các cơ sở, công ty khác, tạo việc làm ổn định cho 15-20 lao động và đem lại nguồn thu cho gia đình  400-500 triệu đồng/năm.
Sản xuất gỗ mỹ nghệ ở thị xã Từ Sơn cũng mang đến sự phồn thịnh cho nhiều gia đình ở các làng nghề. Tiêu biểu như phường Đồng Kỵ hiện có 65 doanh nghiệp, 9 HTX và hơn 3.800 hộ làm nghề, tạo việc làm cho hơn 11.000 lao động địa phương và hàng chục nghìn lao động từ các tỉnh lân cận như: Bắc Giang, Hà Nội, Hưng Yên, Hải Dương, Vĩnh Phúc… với mức thu nhập bình quân từ 8-10 triệu đồng/người/tháng. Nhiều gia đình, công ty mở cửa hàng, đặt văn phòng giao dịch ở khắp các tỉnh, thành phố trong nước và nước ngoài như: Trung Quốc, Lào, Campuchia, Thái Lan. Doanh thu của các doanh nghiệp không ngừng lớn mạnh, nhiều cơ sở doanh thu hàng chục tỷ đồng/ năm, điển hình như Công ty Thiên Long, Hưng Long, Việt Hà… 
Xã Phù Khê hiện có gần 2.600 hộ sản xuất, kinh doanh gỗ mỹ nghệ tạo việc làm cho hơn 4.500 lao động địa phương và hàng nghìn lao động ở các địa phương lân cận. Trong đó, nhiều hộ sản xuất với quy mô lớn cho doanh thu 3-5 tỷ đồng/ năm và tạo việc làm cho 20-30 lao động, điển hình như hộ ông Trần Văn Hoạt, Nguyễn Quốc Long, Vũ Viết Trường, Nguyễn Như Tuyết, Phạm Văn Kết…


Giá trị văn hóa


Giá trị văn hóa thể hiện rõ nét nhất trong các sản phẩm làng nghề gắn với trí thông minh, bàn tay khéo léo và kỹ thuật tinh sảo của các nghệ nhân được lưu truyền từ hàng trăm năm nay đang được kế thừa, khôi phục. Mỗi sản phẩm không chỉ là một sản phẩm hàng hóa thông thường mà còn là nơi gửi gắm tâm hồn, tài năng, thể hiện khiếu thẩm mỹ, sự sáng tạo, tinh thần lao động của nghệ nhân - những người lưu giữ những tinh hoa văn hóa dân tộc, đồng thời không ngừng sáng tạo để làng nghề có thêm nhiều sản phẩm mới vừa phát huy được truyền thống văn hóa vừa thể hiện sức sáng tạo trong điều kiện mới, hình thành “vốn xã hội” của cộng đồng dân cư trong làng.
Trước hết, phải kể đến tranh Đông Hồ (Thuận Thành) có sức sống lâu bền và sức cuốn hút đặc biệt với nhiều thế hệ người Việt Nam cũng như du khách nước ngoài bởi những đề tài trên tranh phản ánh cuộc sống mộc mạc, giản dị, gần gũi, gắn liền với văn hoá người Việt. Đó là hình ảnh Đàn lợn âm dương, Đám cưới chuột, Thiếu nữ hứng dừa hay độc đáo với tranh Đánh ghen… Nhìn vào bức tranh dân gian Đông Hồ, người xem không khỏi ngỡ ngàng, thán phục trước những màu sắc phong phú, tươi tắn; những hình khối, đường nét tuy đơn giản nhưng sống động, gần gũi với đời sống của người nông dân đồng bằng Bắc Bộ.

 

Khắc tranh trên tre trúc - sản phẩm làng nghề Xuân Lai (Gia Bình).

 


Gốm Phù Lãng (Quế Võ) cũng là sản phẩm nổi tiếng của làng nghề Bắc Ninh mang sắc thái riêng biệt so với những sản phẩm gốm trong nước bởi sự độc đáo của men da lươn. Nét đặc trưng nổi bật của gốm Phù Lãng là sử dụng phương pháp đắp nổi theo hình thức chạm kép, màu men tự nhiên, bền và lạ; dáng của gốm mộc mạc, thô phác nhưng khỏe khoắn, chứa đựng vẻ đẹp nguyên sơ của đất với lửa. Hay sản phẩm của làng nghề Đại Bái (Gia Bình) lại chủ yếu thuộc về tâm linh như: Tượng đồng, đỉnh đồng, lư hương, câu đối bằng đồng… Những người thợ luôn cố gắng giữ gìn bản sắc riêng trong từng chi tiết, đường nét điêu khắc. Với sự truyền thụ của các nghệ nhân trong nghề cùng với sự khéo léo của đôi bàn tay mà người làm nghề đã tạc ra được những sản phẩm đặc trưng độc đáo đậm nét “Tinh hoa văn hoá Việt”. Điều đó đã được chứng minh qua hàng trăm công trình tu bổ đền, chùa trong cả nước có sự góp sức của nhiều nghệ nhân tài hoa của làng nghề Đại Bái. 
Với các làng nghề sản xuất gỗ mỹ nghệ ở thị xã Từ Sơn, sản phẩm đều được gắn với đời thường, có sản phẩm mang ý nghĩa tâm linh… nhưng tất cả đều tạo nên sự hứng khởi, cuốn hút đến lạ lùng. Nét độc đáo của sản phẩm gỗ mỹ nghệ là kết hợp rất nhuần nhuyễn giữa truyền thống và hiện đại, phù hợp với xu hướng tiêu dùng và gu thẩm mỹ của khách hàng. Vì thế, từ lâu nhiều sản phẩm đã vượt ra ngoài lãnh thổ quốc gia, trở thành nguồn cung cấp đồ gỗ mỹ nghệ xuất khẩu đến với nhiều nước trong khu vực như: Trung Quốc, Lào, Thái Lan...
Ngoài giá trị về kinh tế, văn hóa, các làng nghề còn ẩn chứa nhiều tiềm năng phát triển du lịch để khai thác các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể, tạo sự “cộng hưởng” trong phát triển kinh tế-xã hội và sự phong phú trong đời sống sinh hoạt của người dân tại các làng nghề truyền thống trong tỉnh.

Bài 2:  Đối mặt với nguy cơ mai một

 

Thái Uyên-Thanh Ngân